Người đại diện trong vụ án dân sự
Ngày đăng: 17-12-2012
1. Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự
Người đại diện theo pháp
luật được quy định trong Bộ luật dân sự cũng là người đại diện theo pháp luật
trong tố tụng dân sự, trừ trường hợp bị hạn chế quyền đại diện theo quy định của
pháp luật. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người khác cũng được coi là đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân
sự của người được bảo vệ (khoản 2 Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự).
2. Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự
Người đại diện theo ủy
quyền được quy định trong Bộ luật dân sự là người đại diện theo ủy quyền trong
tố tụng dân sự.
Đối với việc ly hôn,
đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng (khoản
3 Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự).
3. Quyền, nghĩa vụ của
người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự
Khi tham gia tố tụng, người
đại diện theo pháp luật được thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của
đương sự mà mình là đại diện; người đại diện theo ủy quyền được thực hiện các
quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự theo nội dung văn bản ủy quyền (Điều 74 Bộ luật tố tụng dân sự).
4. Những trường hợp
không được làm người đại diện và việc chỉ định người đại diện trong tố tụng dân
sự
Khoản 1, 2 Điều 75 Bộ luật
tố tụng dân sự quy định những trường hợp sau đây không được làm người đại diện:
- Là đương sự trong cùng một vụ án với người
được đại diện mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối lập với quyền và lợi ích
hợp pháp của người được đại diện;
- Đang là người đại diện
theo pháp luật trong tố tụng dân sự cho một đương sự khác mà quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự đó đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại
diện trong cùng một vụ án;
- Cán bộ, công chức trong
các ngành Tòa án, Kiểm sát, Công an. Do Tòa án, Kiểm sát, Công an là các cơ
quan tư pháp có mối quan hệ gắn bó, mật
thiết với nhau về lĩnh vực công tác. Do đó, về nguyên tắc cán bộ, công chức
trong các ngành này không được tham gia tố tụng với tư cách là người tham gia tố
tụng nói chung và người đại diện trong tố tụng dân sự nói riêng. Tuy nhiên,
trong trường hợp cơ quan của họ hoặc người thân thích của họ là đương sự trong
vụ án dân sự thì họ có thể tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện cho
cơ quan của mình hoặc với tư cách là người đại diện theo pháp luật cho người
thân của mình (khoản 3 Điều 75).
- Trong khi tiến hành tố
tụng dân sự, nếu có đương sự là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà
không có người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc trường
hợp không được làm người đại diện thì Tòa án phải chỉ định người đại diện để
tham gia tố tụng tại Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
(Điều 76).
5. Chấm dứt đại diện
trong tố tụng dân sự
Khi phát sinh tư cách người
được đại diện, điều đó đồng nghĩa với việc sẽ chấm dứt tư cách người đại diện.
Tuy nhiên, việc chấm dứt tư cách người đại diện vào thời điểm nào thì phải căn
cứ vào quy định của pháp luật. Điều 77 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định:
“Người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân
sự chấm dứt việc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự”, tức là theo quy định
tại Điều 156, Điều 157 Bộ luật dân sự. Cụ thể như sau:
Chấm dứt đại diện của cá nhân
- Đại diện theo pháp luật
của cá nhân chấm dứt khi người được đại diện đã thành niên hoặc năng lực hành
vi dân sự đã được khôi phục; người đại diện hoặc người được đại diện chết; người
đại diện mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
- Đại diện theo ủy quyền
của cá nhân chấm dứt khi thời hạn ủy quyền đã hết hoặc công việc được ủy quyền
đã hoàn thành; người ủy quyền hủy bỏ việc ủy quyền hoặc người được ủy quyền từ
chối việc ủy quyền; người ủy quyền hoặc người được ủy quyền chết, mất năng lực
hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Tòa án tuyên bố mất tích
hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết.
Chấm dứt đại diện
của pháp nhân
- Đại diện theo pháp luật
của pháp nhân chấm dứt khi pháp nhân chấm dứt hoạt động.
- Đại diện theo ủy quyền
của pháp nhân chấm dứt khi hết thời hạn ủy quyền hoặc công việc được ủy quyền
đã hoàn thành; người đại diện theo pháp luật của pháp nhân hủy bỏ việc ủy quyền
hoặc pháp nhân chấm dứt hoạt động.
Hậu quả của việc
chấm dứt đại diện trong tố tụng dân sự
- Khi chấm dứt đại diện theo pháp luật tố tụng
dân sự mà người được đại diện đã thành niên hoặc đã khôi phục năng lực hành vi
dân sự thì người đó tự mình tham gia tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người
khác tham gia tố tụng dân sự theo thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định.
- Trong trường hợp chấm dứt
đại diện theo ủy quyền thì đương sự hoặc người thừa kế của đương sự trực tiếp
tham gia tố tụng hoặc ủy quyền cho người khác đại diện tham gia tố tụng theo thủ
tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định./.
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ C&M
Địa chỉ: P 204B, Tòa nhà Licogi 13, đường Khuất Duy Tiến, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
Điện thoại: 04.36227264/ 35537929/ 0913519379/ 0913052779
Tin liên quan
Ngày đăng: 26-11-2012
Khác với vụ án hình sự, trong các vụ án dân sự, nguyên đơn, người yêu cầu có quyền lựa chọn Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự như sau:
Ngày đăng: 26-11-2012
Khi tiến hành tố tụng, để đảm bảo sự vô tư, khách quan của những người tham gia tố tụng, trong các trường hợp nhất định, những người này bị buộc phải thay đổi.
Ngày đăng: 26-11-2012
Sau khi quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, Tòa án có thể hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã áp dụng trong các trường hợp sau:
Ngày đăng: 27-11-2012
Người làm chứng là người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ án có thể được Toà án triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng. Người mất năng lực hành vi dân sự không thể là người làm chứng.




