Thủ tục phá sản doanh nghiệp
Ngày đăng: 19-12-2012
I. Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
1. Những người có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản gồm:
a. Các chủ nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm
một phần.
b. Người lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã.
c. Chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước.
d. Các cổ đông của Công ty cổ phần.
đ. Thành viên hợp danh của Công ty hợp danh.
e. Chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của
doanh nghiệp, hợp tác xã.
2. Những người có nghĩa nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản:
a. Chủ doanh nghiệp.
b. Đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác
xã.
II. Nội dung đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản có
các nội dung chính sau đây:
1. Ngày, tháng, năm làm đơn;
2. Tên, địa chỉ của người làm đơn;
3. Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm
vào tình trạng phá sản;
4. Các khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm
một phần đến hạn mà không được doanh nghiệp, hợp tác xã thanh toán;
5. Quá trình đòi nợ đối với người nộp đơn là chủ
nợ;
6. Số tháng nợ tiền lương, tổng số tiền lương và
các khoản nợ khác mà doanh nghiệp, hợp tác xã không trả được cho người lao động
đối với người nộp đơn là người lao động;
7. Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản.
III. Thẩm quyền của Tòa án trong việc
thụ lý đơn và tiến hành thủ tục phá sản.
Thẩm quyền thụ lý đơn và tiến hành
thủ tục phá sản được phân cấp cho Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án nhân dân
cấp tỉnh căn cứ vào việc cơ quan cấp nào đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh cho doanh nghiệp, hợp tác xã, cụ thể:
1. Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với hợp tác xã đã đăng
ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện đó.
2. Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp
tác xã đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh đó.
Trong trường hợp cần thiết Toà án nhân dân cấp
tỉnh lấy lên để tiến hành thủ tục phá sản đối với hợp tác xã thuộc thẩm quyền
của Toà án nhân dân cấp huyện.
3. Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính
của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có thẩm quyền tiến hành
thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đó.
IV. Mở thủ tục phá sản.
Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá
sản khi có các căn cứ chứng minh doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng
phá sản. Theo điều 3 của Luật phá sản, nếu doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả
năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm
vào tình trạng phá sản.
Trên thực tế, có nhiều nguyên nhân
dẫn đến việc doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản, trong đó có một số nguyên
nhân chủ yếu sau:
1. Do sự yếu kém về năng lực tổ chức,
quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh;
2. Sự thiếu khả năng thích ứng với
những biến động trên thương trường;
3. Vi phạm các chế độ, thể lệ quản
lý;
4. Sự bất trắc và biến động khách
quan trong nền kinh tế thị trường.
Trong trường hợp cần thiết, trước khi ra quyết
định mở thủ tục phá sản, Tòa án có thể triệu tập phiên họp với sự tham gia của
người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện
hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản, cá nhân,
tổ chức có liên quan để xem xét, kiểm tra các căn cứ chứng minh doanh nghiệp,
hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
Toà án ra quyết định không mở thủ tục phá sản nếu
xét thấy doanh nghiệp, hợp tác xã chưa lâm vào tình trạng phá sản.
V. Thủ tục phục hồi hoạt động kinh
doanh trong quá trình thực hiện thủ tục phá sản.
Thẩm phán ban hành quyết định áp dụng thủ tục
phục hồi hoạt động của Doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu phá sản trong các
điều kiện sau:
1. Thẩm phán ra quyết định áp dụng thủ tục phục
hồi hoạt động kinh doanh sau khi Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua Nghị
quyết đồng ý với các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, kế hoạch thanh
toán nợ cho các chủ nợ và yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải xây dựng phương
án phục hồi hoạt động kinh doanh.
2. Trong
thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua Nghị
quyết, doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản phải xây dựng phương
án phục hồi hoạt động kinh doanh của mình và nộp cho Toà án; nếu thấy cần phải
có thời gian dài hơn thì phải có văn bản đề nghị Thẩm phán gia hạn. Thời hạn
gia hạn không quá ba mươi ngày.
Trong thời hạn nói trên, bất kỳ chủ nợ hoặc người
nào nhận nghĩa vụ phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã
đều có quyền xây dựng dự thảo phương án phục hồi hoạt động kinh doanh cho doanh
nghiệp, hợp tác xã và nộp cho Toà án.
VI. Thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
1. Xử lý các khoản nợ.
a. Xử lý các khoản nợ chưa đến hạn: Trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ
tục thanh lý đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì các khoản nợ chưa đến hạn vào
thời điểm mở thủ tục thanh lý được xử lý như các khoản nợ đến hạn, nhưng không
được tính lãi đối với thời gian chưa đến hạn.
b. Xử lý các khoản nợ được đảm bảo bằng tài sản thế chấp, cầm cố: Trường hợp Thẩm
phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì các
khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố được xác lập trước khi
Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được ưu tiên thanh toán bằng tài
sản đó; nếu giá trị tài sản thế chấp hoặc cầm cố không đủ thanh toán số nợ thì
phần nợ còn lại sẽ được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã; nếu giá trị của tài sản thế chấp hoặc cầm cố lớn hơn số nợ
thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp
tác xã.
2. Hoàn trả lại tài sản cho nhà nước: Doanh nghiệp đã được Nhà nước áp dụng
biện pháp đặc biệt về tài sản để phục hồi hoạt động kinh doanh, nhưng vẫn không
phục hồi được mà phải áp dụng thủ tục thanh lý thì phải hoàn trả lại giá trị
tài sản đã được áp dụng biện pháp đặc biệt cho Nhà nước trước khi thực hiện
việc phân chia tài sản.
3. Phân chia tài sản, giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã theo thứ
tự sau đây:
a. Phí phá sản;
b. Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của
pháp luật và các quyền lợi khác theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao
động đã ký kết;
c. Các khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho các chủ nợ trong danh sách chủ
nợ theo nguyên tắc nếu giá trị tài sản đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi
chủ nợ đều được thanh toán đủ số nợ của mình; nếu giá trị tài sản không đủ để
thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ chỉ được thanh toán một phần khoản nợ
của mình theo tỷ lệ tương ứng.
Trường hợp giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi đã thanh
toán đủ các khoản nợ mà vẫn còn thì phần còn lại này
thuộc về: Xã viên hợp tác xã; Chủ doanh nghiệp tư nhân; Các thành viên của công ty; Các cổ đông của công ty cổ phần; Chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước.
4. Trả lại tài sản thuê hoặc mượn khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng
thủ tục thanh lý.
Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định mở thủ tục
thanh lý, chủ sở hữu tài sản cho doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục
thanh lý thuê hoặc mượn tài sản để dùng vào hoạt động kinh doanh phải xuất
trình giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, hợp đồng cho thuê hoặc cho mượn với Tổ
trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản để nhận lại tài sản của mình. Trong trường
hợp có tranh chấp thì yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý đã trả trước
tiền thuê nhưng chưa hết thời hạn thuê thì chủ sở hữu chỉ được nhận lại tài sản
sau khi đã thanh toán lại số tiền thuê còn thừa do chưa hết thời hạn để Tổ quản
lý, thanh lý tài sản nhập vào khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó.
Trường hợp tài sản thuộc quyền đòi lại đã bị doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp
dụng thủ tục thanh lý chuyển nhượng cho người khác thì chủ sở hữu có quyền yêu
cầu bồi thường đối với tài sản đó như khoản nợ có bảo đảm.
VII. Tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản.
Thẩm phán ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản đồng
thời với ra quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản.
Thông thường, Tòa án ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá
sản sau khi thực hiện thủ tục thanh lý tài sản.
Tuy nhiên, trong một số trường
hợp đặc biệt, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản
mà không cần áp dụng thủ tục phục hồi hay thủ tục thanh lý tài sản, cụ thể:
1. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp tiền tạm ứng phí
phá sản do Tòa án ấn định, chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh
nghiệp, hợp tác xã nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản không còn tiền và tài sản
khác để nộp tiền tạm ứng phí phá sản thì Toà án ra quyết định tuyên bố doanh
nghiệp, hợp tác xã bị phá sản.
2. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và nhận các tài liệu, giấy
tờ do các bên có liên quan gửi đến, Toà án ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp,
hợp tác xã bị phá sản, nếu doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
không còn tài sản hoặc còn nhưng không đủ để thanh toán phí phá sản.
Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn cụ thể và cung cấp dịch vụ tư vấn luật tốt nhất!
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ C&M
Địa chỉ: P 204B, Tòa nhà Licogi 13, đường Khuất Duy Tiến, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
Điện thoại: 04.36227264/ 35537929/ 0913519379/ 0913052779
Tin liên quan
Ngày đăng: 19-11-2012
Khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, doanh nghiệp có thể tiến hành phá sản theo trình tự, thủ tục sau:
Ngày đăng: 19-11-2012
Khi doanh nghiệp bị phá sản, nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp đối với người lao động thực hiện theo các quy định của pháp luật như sau:
Ngày đăng: 27-11-2012
Khi thấy doanh nghiệp lâm vào tình trạng không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, những người có quyền và lợi ích liên quan có thể nộp hồ sơ yêu cầu phá sản theo hướng dẫn sau:
Ngày đăng: 18-12-2012
Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá
sản khi có các căn cứ chứng minh doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng
phá sản. Theo điều 3 của Luật phá sản, nếu doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả
năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm
v...




